“Phúc cho ai có tinh thần thanh bần vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3)

  1. Tin mừng mời gọi chúng ta nhìn nhận thực trạng con tim của chúng ta để xem chúng ta đặt an ninh cuộc sống của mình ở đâu. Thông thường, người giàu có cảm thấy yên ổn với của cải của họ và nghĩ rằng khi những của cải giàu sang này bị lâm nguy thì tất cả ý nghĩa cuộc sống của họ trên trái đất cũng bị suy tàn. Chính Đức Giê-su đã nói điều đó trong dụ ngôn người giàu có ngu dại: khi Ngài nói về người chắc chắn về bản thân như người điên dại không nghĩ rằng mình có thể chết trong chính ngày ấy (x. Lc 12,16-21).

 

  1. Những của cải chẳng bảo đảm cho bạn sự gì. Trái lại khi tâm hồn cảm thấy giàu có thì sẽ hài lòng về chính mình đến nỗi không còn chỗ cho lời Chúa để yêu thương anh chị em, và cũng chẳng vui hưởng những điều quan trọng nhất trong cuộc sống và thế là họ bị thiếu những thiện ích lớn lao nhất. Vì vậy Đức Giê-su nói với những người có tinh thần thanh bần là những người có phúc vì Chúa có thể đi vào tâm hồn của họ với sự mới mẻ liên tục của ngài.

 

  1. Tinh thần thanh bần này gắn chặt với sự “bình tâm thánh thiện” mà thánh Inhaxio Loyola đã đề nghị. Trong đó, chúng ta đạt tới được tự do nội tâm: “Chúng ta cần huấn luyện bản thân mình bình tâm đối với tất cả những vật thụ tạo trong tất cả những gì được phép đối với tự do trong phán đoán tự do của chúng ta và không bị cấm. Làm sao để từ phía chúng ta không còn ao ước sức khỏe hơn là bệnh tật; yêu giàu sang hơn là cảnh nghèo; yêu danh dự hơn là bị mất danh dự; ao ước cuộc sống lâu hơn là cuộc sống ngắn ngủi, và tất cả những gì khác còn lại. (Linh thao, 23d)

 

  1. Thánh Luca không nói về một sự nghèo khó “trong tinh thần” nhưng chỉ nói về “nghèo” vậy thôi (x. Lc 6,20). Qua đó, ngài cũng mời gọi chúng ta hãy sống khổ hạnh và từ bỏ. Thánh nhân kêu gọi chúng ta chia sẻ cuộc sống của những người túng thiếu nhất, cuộc sống như các Tông đồ và xét cho cùng đó là cuộc sống phù hợp với Chúa Giê-su - Đấng vốn giàu có đã “trở nên nghèo”.

 

Có tinh thần thanh bần đó là sự thánh thiện.

 

 

Hiền lành không chỉ là nhân đức giúp ta luôn được người khác đón tiếp, có chỗ ở; bản thân và những người xung quanh được nghỉ ngơi dưỡng sức mà nó còn là con đường nên thánh của mỗi người chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxico đã triển khai Mối phúc này trong Tông Huấn Gaudete et Exsultate từ số 71 đến số 74.

 

 

“Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,4)

 

  1. Đây là một kiểu nói mạnh trong thế giới mà ngay từ đầu là một nơi thù nghịch, nơi mà người ta tranh chấp nhau, oán ghét, hận thù ở mọi phía, nơi mà người ta liên tục xếp loại tha nhân theo những ý tưởng tập quán, thậm chí theo cả cách nói năng và ăn mặc. Tóm lại là một vương quốc của kiêu ngạo, háo danh, trong đó mỗi người tưởng có quyền coi trọng bản thân hơn những người khác. Tuy có vẻ không thể được, Đức Giê-su vẫn đề nghị một con đường sống khác: đó là sự hiền lành. Đó là điều Ngài đã thực hành cùng với các môn đệ và chúng ta thấy khi ngài tiến vào thành Giê-ru-sa-lem: “Này đây vua của ngươi đang đến với ngươi hiền lành ngồi trên một con lừa” (Mt 21,5; Dcr 9,9).

 

  1. Đức Ki-tô nói: “hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng và tâm hồn anh em sẽ tìm được sự nghỉ ngơi bồi dưỡng”(Mt 11,29). Nếu chúng ta bị dao động, kiêu hãnh trước người khác thì rốt cuộc chúng ta sẽ mệt mỏi và kiệt lực. Nhưng khi chúng ta nhìn những giới hạn và khuyết điểm của họ với sự dịu dàng và hiền lành, không cảm thấy mình cao trọng hơn họ, chúng ta có thể giúp họ một tay và tránh lãng phí năng lực qua những lời than vãn vô ích. Đối với thánh nữ Tê-rê-sa thành Lisieux: “đức bác ái hoàn hảo hệ tại ở chỗ chịu đựng những khuyết điểm của người khác, không hoàn toàn ngạc nhiên vì những yếu đuối của họ” (Manuscript C, 12r).
  2. Thánh Phao-lô liệt kê sự dịu dàng như một hoa trái của Chúa Thánh Linh (x. Gl 5,23). Ngài đề nghị rằng nếu đôi khi ta lo âu về những hành động xấu của người anh em, thì chúng ta hãy đến gần để sửa chữa họ nhưng “với một tâm hồn dịu dàng”, và thánh nhân nhắc khi “bạn phải cảnh giác bản thân kẻo bị cám dỗ” (Gl 6,1). Cả khi bênh vực đức tin và các xác tín của mình, cần phải hành động một “cách hiền hòa” (1 Pr 3,16) và thậm chí cả các đối thủ cũng cần được đối xử một các “hiền từ” (2 Tm 2,25). Trong giáo hội, có bao lần chúng ta đã lầm lẫn vì đã không lắng nghe lời mời gọi này của Chúa.
  3. Sự hiền lành là một cách diễn tả khác về sự thanh bần nội tâm của người chỉ đặt tin tưởng nơi Thiên Chúa. Trong thực tế, trong Kinh Thánh, người ta thường dùng cùng một từ -Anawim - để nói về người nghèo và người hiền lành. Có thể có người vặn lại: “Nếu tôi hiền quá họ sẽ nói rằng tôi là người điên, người ngu xuẩn hoặc yếu đuối”. Có lẽ là như thế. Nhưng chúng ta hãy để người khác nghĩ như thế, tốt hơn hiền lành vẫn là điều tốt lành và những ước mong lớn nhất của chúng ta sẽ được thành tựu. Người hiền lành “sẽ được đất là gia nghiệp” bởi họ sẽ thấy những lời hứa của Thiên Chúa ứng nghiệm trong cuộc sống của họ. Trong mọi hoàn cảnh, những người hiền lành luôn hy vọng nơi Chúa và những người hy vọng nơi Chúa thì sẽ được đất làm gia nghiệp và được hưởng an bình lớn lao (x. Tv 37,9.11). Đồng thời, Chúa tín nhiệm nơi họ: “Ta sẽ hướng nhìn nơi ai? Nơi người khiêm tốn và nơi người có tinh thần thống hối và người run rẩy trước lời Ta” (Is 66,2).

 

Phản ứng với lòng hiền lành khiêm tốn đó là sự thánh thiện.

 

 

ĐTC: Con đường nên thánh khi sầu khổ

 

Khóc và sầu khổ đúng cách sẽ giúp ta cảm thông và chữa lành những mất mát thất bại cũng như làm cho con người sám hối trở về. Chính Đức Giê-su, bằng đời sống với những đau khổ và thập giá, luôn luôn có thể ủi an và làm mẫu gương cho chúng ta nên thánh trong hoàn cảnh đau khổ nhất.

 

 

“Phúc cho những người khóc lóc vì họ sẽ được an ủi” (Mt 5,5)

 

  1. Thế giới đề nghị với chúng ta điều trái ngược: vui chơi, hưởng thụ, giải trí, tiêu khiển và nói với chúng ta rằng đó là điều làm cho cuộc sống của chúng ta được tốt đẹp. Người phàm tục cố tình không biết đến, họ ngoảnh mặt đi nơi khác khi có những vấn đề đau đớn trong gia đình hoặc chung quanh họ. Thế gian không muốn khóc, người ta muốn có nhiều nghị lực để tránh thoát những tình cảnh trong đó có đau khổ và họ tin rằng có thể che đậy thực tại trong đó không bao giờ có thể thiếu thập giá.

 

  1. Một người nhìn thực tại như chúng có thực thì để cho mình bị đau khổ đâm thấu và khóc trong tâm hồn. Họ có thể đi tới chiều sâu của cuộc sống và thực sự hạnh phúc. Người ấy được an ủi, nhưng đó là sự an ủi của Chúa Giê-su chứ không phải của thế gian. Nhờ đó, có thể có can đảm chia sẻ đau khổ với người khác và ngưng trốn chạy những tình cảnh đau thương. Theo cách thức ấy, họ khám phá thấy rằng: cuộc sống có nghĩa khi cứu giúp người khác trong đau khổ của họ. Khi hiểu lo âu của người khác, giúp giảm bớt đau khổ của họ, người ấy cảm thấy rằng, tha nhân thuộc về thân thể của họ, không sợ đến gần tha nhân đến độ động đến vết thương của họ, cảm thông đến độ cảm thấy rằng: không còn khoảng cách nữa. Thế là họ có thể đón nhận lời nhắn nhủ này của thánh Phao-lô: “hãy khóc với những người khóc” (Rm 12,15).

Biết khóc với những người khác: đó là sự thánh thiện.

 

 

Con đường nên thánh – Đói khát sự công chính

 

Thật đẹp và thú vị khi ta ao ước cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, không còn tàm tạm, tầm thường, lệ thuộc.

 

 

“Phúc thay người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thỏa mãn” (Mt 5,6)

 

  1. Đói và khát là những kinh nghiệm rất mạnh vì chúng đáp lại những nhu cầu căn bản và gắn liền với bản năng sinh tồn. Có những người khao khát sự công chính và tìm kiếm nó với một ước muốn rất mạnh mẽ. Chúa Giê-su dạy rằng: những người ấy sẽ được thỏa mãn vì sớm muộn gì sự công chính sẽ đến cho dù chúng ta không luôn thấy kết quả của sự dấn thân như vậy.
  2. Nhưng sự công chính mà Chúa Giê-su đề nghị không phải là thứ công chính mà thế gian tìm kiếm. Nhiều khi sự công chính hay công lý này bị phe này hay phe kia lèo lái. Thực tại cho chúng ta thấy, thật là dễ đi vào những băng đảng tham nhũng thuộc vào thứ chính trị hằng ngày. Tôi cho đi để họ cho lại tôi. Trong đó, tất cả đều là buôn bán. và bao nhiêu người chịu đau khổ vì những bất công, bao nhiêu người quan sát những người khác thay phiên nhau chia chác chiếc bánh ngọt của cuộc sống. Một số người từ chối tranh đấu cho sự công chính đích thực và chọn giải pháp leo lên chiếc xe của kẻ chiến thắng. Điều này chẳng liên hệ gì đến sự đói khát sự công chính mà Chúa Giê-su ca ngợi.
  3. Sự công chính ấy bắt đầu được thể hiện trong cuộc sống của mỗi người khi hành động công chính trong mỗi quyết định của họ và rồi biểu lộ trong sự tìm kiếm công lý cho người nghèo và người yếu thế. Chắc chắn sự công chính có thể đồng nghĩa với sự trung thành theo thánh ý Thiên Chúa với trọn cuộc sống của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta mang lại cho nó một ý nghĩa rất tổng quát thì chúng ta quên rằng nó đặc biệt được biểu lộ trong sự công chính với những người vô phương thế tự vệ. Các con hãy “tìm kiếm sự công chính hãy cứu giúp những người bị áp bức, thực thi công lý cho kẻ mồ côi, bênh vực chính nghĩa của các góa phụ” (Is 1,17).

        Khao khát tìm kiếm sự công chính, đó chính là sự thánh thiện.

 

Nên thánh bằng việc thương xót người

 

 

“Phúc thay người biết thương xót, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7)

 

  1. Lòng thương xót có hai phương diện. Nó liên hệ đến việc tha thứ, giúp đỡ và phục vụ người khác, nhưng đồng thời cũng bao gồm phương diện tha thứ và thông cảm. Thánh Mát-thêu tóm tắt lại trong một quy tắc vàng: “trong mọi việc, anh em hãy làm cho người khác những gì anh em muốn người ta làm cho anh em” (Mt 7,12). Giáo lý nhắc chúng ta rằng luật này sẽ được áp dụng “trong mọi trường hợp” (Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1789; x. 1970), đặc biệt khi chúng ta “bị đặt trước những hoàn cảnh làm cho những phán đoán luân lý ít chắc chắn và quyết định khó khăn” (Ibid., 1787).

 

  1. Việc cho đi và tha thứ có nghĩa là đang sản sinh nơi chúng ta một số hạt mầm sự hoàn thiện của Thiên Chúa, Đấng trao ban và tha thứ cách dư dật. Vì lý do này, trong tin mừng của Thánh Luca chúng ta không nghe thấy từ “Hoàn thiện” (Mt 5,48), nhưng là “hãy thương xót như Cha anh em thương xót. Đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị xét đoán; đừng lên án, thì anh em sẽ không bị lên án; hãy tha thứ, thì anh em sẽ được thứ tha; hãy cho, anh em sẽ được cho lại” (6,36-38). Thánh Luca còn thêm một số điều mà không được bỏ qua: “Anh em cho bao nhiêu thì sẽ được cho lại bằng ấy” (6,38). Tiêu chuẩn chúng ta dùng cho việc cảm thông và cho đi đối với người khác sẽ được đo lường sự tha thứ mà chúng ta nhận được. Chúng ta cho đi bao nhiều thì sẽ nhận được bằng ấy. Chúng ta đừng quên điều này.

 

  1. Đức Giê-su không nói: “phúc cho những người bày mưu trả thù”. Người “chúc phúc” cho những người tha thứ và là tha thứ “bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Chúng ta cần nghĩ về bản thân mình là người đã được tha thứ rất nhiều. Tất cả chúng ta đã được cảm nếm lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu chúng ta gặp gỡ Chúa với lòng chân thành và chăm chú lắng nghe, ở đó có thể đúng là những lần chúng ta nghe thấy sự chỉ trích của Người: “Đến lượt ngươi lại không thương xót người đồng bạn của ngươi, như Ta đã thương xót ngươi sao” (Mt 18,33).

 

Việc nhìn xem và hành động với lòng thương xót: Đó là sự thánh thiện

 

Con đường nên thánh giữ tâm hồn trong sạch

 

Sống trong sạch ngay thẳng sẽ làm chúng ta tỉnh táo và không bì lừa; sẽ giúp chúng ta nhìn thấy sự thật, điều tốt và tình yêu đích thực. Đó chính là hạnh phúc mà mỗi người mong muốn được hưởng kiến tôn nhan Chúa.

“Phúc Thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8)

 

  1. Mối phúc này nói về những người có tâm hồn đơn sơ, trong sạch và không vẩn đục, vì một tâm hồn có khả năng yêu thương sẽ không cho phép điều gì có thể làm tổn hại, yếu đi hay nguy hiểm đến tình yêu. Kinh Thánh dùng từ tâm hồn để mô tả những xu hướng thực sự, những điều chúng ta thực sự tìm kiếm và ao ước, phân biệt với những cái bên ngoài. “Con người nhìn thấy những cái bề ngoài, còn Chúa nhìn thấu suốt cõi lòng” (1 Sm 16,7). Thiên Chúa muốn nói với những tâm hồn của chúng ta (x. Hs 2,16); nơi đó Người muốn viết ra lề luật của Người (x. Gr 31,33). Nói cách khác, Người muốn ban cho chúng ta một quả tim mới (x. Ed 36,26).

 

  1. “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ” (Cn 4,23). Không gì có thể làm vẩn đục những điều có giá trị trong mắt của Chúa. Người “tránh xa thói lọc lừa, chỗi dậy và tách biệt những tư tưởng ngu dốt” (Kn 1,5). Chúa Cha, “Đấng thấu suốt những gì kín đáo” (Mt 6,6), nhận ra những gì là mờ ám và không chân thành, dù nó thể hiện và xuất hiện thế nào, như Chúa Con đã làm: Đấng biết “những gì nơi lòng người” (x. Ga 2,25).

 

  1. Tất nhiên sẽ không có yêu thương nếu không có việc làm của tình yêu, nhưng Mối Phúc này nhắc chúng ta rằng Chúa mong đợi một sự dấn thân cho anh chị em chúng ta xuất phát từ con tim. Vì “giả như tôi có bố thí tất cả những gì tôi có, và giả như tôi có đem cả thân xác chịu thiêu đốt mà không có lòng yêu mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,3). Trong Tin Mừng Mát-thêu, chúng ta cũng thấy rằng những gì xuất phát từ con tim mới làm con người ra ô uế (x. 15,18), vì từ lòng người nảy sinh giết người, trộm cắp, làm chứng dối và những hành động gian ác khác (x. 15,19). Từ những xu hướng của lòng người phát sinh những ước muốn, những quyết định sâu kín nhất xác định đoạt hành động của chúng ta.

 

  1. Một tâm hồn yêu mến Thiên Chúa và người thân cận (x. Mt 22,36-40), một cách thực sự và không chỉ bằng lời nói suông, là một tâm hồn trong sạch; tâm hồn đó có thể nhìn thấy Thiên Chúa. Trong bài ca về Đức Mến, thánh Phao-lô nói rằng “bây giờ chúng ta chỉ thấy mờ mờ như trong một tấm gương” (1Cr 13,12), nhưng đến khi sự thật và tình yêu đó chiến thắng thì chúng ta sẽ có thể nhìn “diện đối diện”. Đức Giê-su hứa rằng những người có tâm hồn trong sạch “sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”.

 

Giữ gìn tâm hồn tự do khỏi tất cả những gì làm mờ tối lòng yêu mến: đó là sự thánh thiện.

 

Xây dựng hòa bình

 

Gia nhập hội con Thiên Chúa đó là những người đi xây dựng hòa bình. Để xây dựng hòa bình, con người cần có phong thái hòa bình. Vì chỉ khi lòng bình an, con người mới có thể mang bình an đến cho những người khác.

 

 

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9)

 

  1. Mối Phúc này làm chúng ta nghĩ đến vô vàn hoàn cảnh chiến tranh trong thế giới. Nhưng chính bản thân chúng ta thường là nguyên cớ của xung đột hoặc ít ra là sự hiểu lầm. Ví dụ tôi có thể nghe thấy điều gì đó về người khác và tôi ra đi và không ngừng tung tin đó… Và nó càng làm hại bao nhiêu thì dường như tôi càng thấy mãn nguyện bấy nhiêu. Thế giới của sự nói hành nói xấu, được cư ngụ bởi những con người tiêu cực và phá hủy không mang lại hòa bình. Những người này là những kẻ thù thực sự của hòa bình; chẳng có cách nào để họ được “chúc phúc”.

 

  1. Những người xây dựng hòa bình thực sự “kiến tạo” hòa bình; họ xây dựng hòa bình và tình bằng hữu trong xã hội. Đức Giê-su đã thực hiện lời hứa tuyệt vời cho những người gieo mầm hòa bình: “Họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Người nói với các môn đệ rằng, đi bất cứ nơi nào hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (Lc 10,5). Lời của Thiên Chúa cổ vũ mọi người tin hãy xây dựng hòa bình, “cùng với những ai kêu cầu Chúa với tâm hồn trong sạch” (x. 2 Tm 2,22), vì “hoa trái của sự công chính được gieo trong bình an bởi những người xây dựng hòa bình” (Ga 3,18). Và nếu có những lần nơi cộng đoàn chúng ta đặt ra câu hỏi chúng ta phải làm gì, “thì chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an” (Rm 14,19), bởi sự hợp nhất thì cao trọng hơn sự xung đột.

 

  1. Thật không dễ để “kiến tạo” hòa bình theo tinh thần Tin Mừng, một nền hòa bình không loại trừ ai, nhưng bao gồm cả những người thiểu số, những kẻ lo âu hay khó khăn, đòi hỏi, khác biệt, những người bị thương tổn trong cuộc sống hay đơn giản không được chào đón. Đó là một công việc vất vả; mời gọi một sự mở rộng tâm hồn và tâm trí cách vĩ đại, từ đó nó không hướng đến tạo ra “một sự đồng thuận trên giấy hay một nền hòa bình tạm thời cho một thiểu số được thỏa mãn” (Gaudium Evangelii, 218), hoặc một dự án “bởi một vài người nhắm đến thiểu số” (Ibid., 239). Hay không phải có thể lờ đi hoặc không quan tâm đến xung đột; thay vì phải “đối diện với xung đột trực tiếp, giải quyết xung đột và làm nó thành một dây nối của một tiến trình mới” (Ibidem, 227). Chúng ta cần trở thành những nghệ nhân của hòa bình, vì xây dựng hòa bình là nghệ thuật đòi hỏi sự bình thản, sự sáng tạo, nhạy cảm và khéo léo.

 

Đi gieo hòa bình cho tất cả mọi người xung quanh chúng ta: Đó là sự thánh thiện

 

Nên thánh bằng việc chịu bách hại vì sống công chính

 

Vui tươi hớn hở khi chịu thử thách bách hại là một ân sủng Chúa ban. Vì khi chịu được như thế, chúng ta sẽ vui luôn. Khi đó, không còn hoàn cảnh nào có thể lấy mất niềm vui và bình an của chúng ta được nữa.

 

“Phúc thay người bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10)

 

  1. Chính Đức Giê-su cảnh báo chúng ta rằng con đường Người đưa ra đi ngược dòng, thậm chí con đường chúng ta sống làm cho chúng ta thách thức xã hội, kết cục trở nên một sự phiền toái. Người nhắc cho chúng ta thấy rằng có biết bao người đã và vẫn còn bị bách hại như thế đơn giản chỉ vì họ đấu tranh cho công lý, vì họ dâng hiến thực sự đời mình cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Trừ khi chúng ta muốn chìm sâu trong một sự tầm thường lập lờ, thì chúng ta đừng mong một cuộc sống dễ dàng, bởi “bất cứ ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất” (Mt 16,25).

 

  1. Trong việc sống Tin Mừng, chúng ta không thể chờ đợi mọi thứ sẽ thoải mái, vì cơn khát quyền lực và hưởng thụ trần thế thường nằm ngay trong lối đi của chúng ta. Thánh Gio-an Phao-lô II đã ghi nhận rằng: “Một xã hội bị tha hóa nếu các thể thức tổ chức, sản phẩm và việc tiêu thụ xã hội làm cho khó thực hiện sự hiến thân và thiết lập một sự liên đới giữa con người với nhau” (Encyclical Letter Centesimus Annus, 1 May 1991, 41c). Trong hoàn cảnh này, một xã hội mà chính trị, truyền thông đại chúng và các tổ chức kính tế, văn hóa và thậm chí tôn giáo trở thành vướng mắc, gây nên trở ngại cho việc phát triển xã hội và con người thực sự. Kết quả là, Các Mối Phúc không dễ để thực hiện; mọi cố gắng để thực hành các Mối Phúc sẽ được nhìn một cách tiêu cực, được soi xét với sự nghi ngờ, và gặp phải sự nhạo báng.

 

  1. Bất cứ điều gì phiền lòng và đau đớn mà chúng ta có thể cảm nghiệm trong khi sống điều răn yêu thương và theo đường lối công chính, thập giá vẫn luôn là nguồn sức mạnh cho sự trưởng thành và nên thánh của chúng ta. Chúng ta phải không được quên rằng khi Tân Ước nói chúng ta sẽ phải chịu đựng đau khổ vì Tin Mừng, thì Kinh Thánh nói cách rõ ràng về sự bách hại (x. Cv 5,41; Pl 1,29; Cl 1,24; Tm 1,12; 1Pr 2,20. 4,14-16; Kh 2,20).

 

  1. Ở đây chúng ta đang nói về sự bách hại không thể tránh được, chứ không phải loại bách hại mà chúng ta có thể gặp phải do cách đối xử không đúng của chúng ta mà người khác mang lại. Các thánh không phải là người kỳ quặc và sống cách biệt, không thể chịu đựng bởi vì sự rỗng tuếch, tiêu cực và oán giận của mình. Những Tông Đồ của Đức Ki-tô không giống như thế. Sách Công Vụ Tông Đồ nói đi nói lại rằng các ngài được hứng thú thiện cảm “với toàn dân” (2,47; x. 4,21.33; 5,13), ngay khi một số nhà cầm quyền đã làm phiền và bách hại các ngài (x. 4,1-3.5,17-18).

 

  1. Những bách hại không phải là một thực tại của quá khứ, vì ngày nay chúng ta cũng kinh nghiệm bách hại, hoặc đến độ đổ máu như trường hợp mà các vị chứng nhân tử đạo thời nay, hoặc do những cách thức tinh vi hơn, bằng sự vu khống và lừa dối. Đức Giê-su nói rằng chúng ta được chúc phúc khi người ta “nói đủ mọi điều xấu xa vì danh Thầy” (Mt 5,11). Nơi khác, sự bách hại có thể ở dạng chế giễu để cố gắng châm biến đức tin của chúng ta và làm cho chúng ta bị nhạo báng.

 

Chấp nhận hằng ngày con đường của Tin mừng, dù có thể làm chúng ta gặp những vấn đề khó khăn: Đó là sự thánh thiện.

 

(ĐGH Phanxicô, Tông Huấn Gaudete et Exsultate, 2018, số 67-94)

 

                                                                                                                                                                Tiểu Bôi biên tập và chuyển ngữ

Nguồn:

https://zenit.org/articles/gaudate-et-exsultate-on-the-call-to-holiness-in-todays-world-full-text/

https://www.youtube.com/watch?v=vQhwPc_qieE

https://www.youtube.com/watch?v=7SIfbDD9Rf4


Các bài viết khác